Bầu cử Tổng thống Mỹ 2008: Những con số biết nói

Tính đến 15 giờ theo giờ Việt Nam, Thượng nghị sỹ Barack Obama giành thắng lợi trên 26 bang, đạt 338 phiếu đại cử tri với gần 59 triệu cử tri ủng hộ, chiếm 52% – Ảnh: Reuters.

VnEconomy xin tổng hợp và giới thiệu những số liệu thống kê đáng chú ý trong cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ năm 2008.

Có hơn 130 triệu cử tri Mỹ đi bầu cử Tổng thống, các nghị sỹ tại Thượng viện và Hạ viện.

Có tổng cộng 257 ứng cử viên chạy đua vào chiếc ghế ông chủ Nhà Trắng, tất nhiên trong số đó Obama và McCain là hai gương mặt nổi bật nhất.

Tính đến 8 giờ ngày 5/11 theo giờ Việt Nam, Thượng nghị sỹ Barack Obama giành thắng lợi trên 27 bang, đạt 349 phiếu đại cử tri với gần 64 triệu cử tri ủng hộ, chiếm 53%.

Thượng nghị sỹ John McCain giành thắng lợi ở 22 bang, đạt 163 phiếu đại cử tri với hơn 56 triệu cử tri ủng hộ, chiếm 46%.

Cuộc đua vào Thượng viện và Hạ viện cũng nghiêng hẳn về Đảng Dân chủ với số ghế áp đảo. Đảng Dân chủ đã dành được 56 ghế trong Thượng viện và 251 ghế trong Hạ viện.

Trong khi đó, Đảng Cộng hòa giành 40 ghế trong Thượng viện, 173 ghế trong Hạ viện.

Hiện còn 2 bang chưa công bố kết quả cuối cùng là Missouri và North Carolina.

Cuộc thăm dò gần 18.000 cử tri Mỹ của hãng CNN cũng cho thấy một số kết quả hết sức thú vị.

Theo đó, 49% nam giới (chiếm 47% tổng số cử tri) bầu cho Thượng nghị sỹ Barack Obama, 48% bầu cho Thượng nghị sỹ John McCain, 2% còn lại bầu cho ứng cử viên độc lập khác.

Và có 56% cử tri là nữ giới (chiếm 53% tổng số cử tri) bầu cho ông Barack Obama, 43% bầu cho ông John McCain và 1% bầu cho ứng cử viên độc lập.

Số cử tri nam giới da trắng (chiếm 36% tổng số cử tri) bầu cho ông Barack Obama là 41%, cho ông John McCain là 57% và 2% còn lại bầu cho ứng cử viên độc lập.

Tỷ lệ cử tri nữ giới da màu (chiếm 5% tổng số cử tri) bầu cho ông Barack Obama là 95% và 5% còn lại bầu cho ông John McCain.

Số cử tri nữ da trắng (chiếm 36% tổng số cử tri) bầu cho ông Barack Obama chiếm 46%, 53% bầu cho ông John McCain và 1% còn lại bầu ứng cử viên độc lập khác.

Số liệu thống kê về sắc tộc các khu vực đi bầu cử cho thấy:

Có 43% người da trắng (chiếm 74% tổng số cử tri) bỏ phiếu cho ông Barack Obama, 55% bầu cho ông John McCain và 2% bầu cho ứng cử viên độc lập.

Có đến 95% người Mỹ gốc Phi (chiếm 13% tổng số cử tri) bỏ phiếu cho ông Barack Obama, 4% bầu cho ông John McCain và 1% còn lại bầu cho ứng cử viên độc lập.

66% số người Mỹ-latinh (chiếm 8% tổng số cử tri) bầu cho ông Barack Obama, 31% bầu cho ông John McCain và 3% còn lại bầu cho ứng cử viên độc lập.

Có 62% số người Mỹ gốc châu Á (chiếm 2% tổng số cử tri) bỏ phiếu cho ông Barack Obama, 35% bầu cho ông John McCain và 3% còn lại bầu cho ứng cử viên độc lập.

65% số cử tri khác không thuộc nhóm trên (chiếm 3% tổng số cử tri) đã bầu cho ông Barack Obama, 31% bầu cho ông John McCain và 4% còn lại bầu cho ứng cử viên độc lập.

Thống kê về độ tuổi đi bỏ phiếu cho thấy:

Từ 18 tuổi đến 24 tuổi (chiếm 10% cử tri), có 66% bỏ phiếu cho ông Barack Obama, 32% bầu cho ông John McCain và 2% còn lại bầu cho ứng cử viên độc lập.

Từ 25-29 tuổi (chiếm 8% số cử tri), có 66% bỏ phiếu cho ông Barack Obama, 32% bầu cho ông John McCain và 2% còn lại bầu cho ứng cử viên độc lập.

Từ 30-39 tuổi (chiếm 18% cử tri), có 54% bầu cho ông Barack Obama, 44% bầu cho ông John McCain và 2% còn lại bầu cho ứng cử viên độc lập.

Từ 40-49 tuổi (chiếm 21% số cử tri), có có 49% bầu cho ông Barack Obama, 49% bầu cho ông John McCain và 2% còn lại bầu cho ứng cử viên độc lập.

Từ 50-64 tuổi (chiếm 26% số cử tri), có 50% bỏ phiếu cho ông Barack Obama, 49% bầu cho ông John McCain và 1% còn lại bầu cho ứng cử viên độc lập.

Thống kê về số cử tri theo mức thu nhập cho thấy:

Với cử tri có mức thu nhập dưới 15.000 USD/năm (chiếm 6% số cử tri), có 73% bỏ phiếu cho ông Barack Obama, 25% bầu cho ông John McCain và 2% còn lại bầu cho ứng cử viên độc lập.

Với cử tri có mức thu nhập từ 15.000 đến dưới 30.000 USD/năm (chiếm 12% tổng số cử tri), có 60% bỏ phiếu cho ông Barack Obama, 37% bầu cho ông John McCain và 3% còn lại bầu cho ứng cử viên độc lập.

Với cử tri có thu nhập từ 30.000 đến dưới 50.000 USD/năm (chiếm 20% số cử tri), có 55% bỏ phiếu cho ông Barack Obama, 43% bầu cho ông John McCain và 2% còn lại bầu cho ứng cử viên độc lập.

Với cử tri có thu nhập từ 50.000 đến dưới 75.000 USD/năm (chiếm 21% số cử tri), có 49% bỏ phiếu cho ông Barack Obama, 49% bầu cho ông John McCain và 2% còn lại bầu cho ứng cử viên độc lập.

Với cử tri có thu nhập từ 75.000 đến dưới 100.000 USD/năm (chiếm 15% số cử tri), có 51% bỏ phiếu cho ông Barack Obama, 48% bầu cho ông John McCain và 1% còn lại bầu cho ứng cử viên độc lập.

Với cử tri có thu nhập từ 100.000 đến dưới 150.000 USD/năm (chiếm 14% số cử tri), có 48% bỏ phiếu cho ông Barack Obama, 51% bầu cho ông John McCain và 1% còn lại bầu cho ứng cử viên độc lập.

Với cử tri có thu nhập từ 150.000 đến dưới 200.000 USD/năm (chiếm 6% số cử tri), có 49% bỏ phiếu cho ông Barack Obama, 50% bầu cho ông John McCain và 1% còn lại bầu cho ứng cử viên độc lập.

Với cử tri có thu nhập trên 200.000 USD/năm (chiếm 6% số cử tri), có 52% bỏ phiếu cho ông Barack Obama, 46% bầu cho ông John McCain và 2% còn lại bầu cho ứng cử viên độc

Tàn tích của Lehman Brothers đắt giá trên mạng

Sau khi Lehman Brothers tuyên bố phá sản, hàng chục chiếc mũ, bút, các vật dụng khác và nhiều tên miền được giao bán đấu giá trên trang Ebay. <!–

–>

Chỉ sau 9 giờ giao bán, tên miền falloflehman.com (Sự sụp đổ của Lehman) được trả giá cuối cùng là 1.025 USD.

Tên miền  falloflehman.com được rao bán.

Có đến 223 vật dụng của ngân hàng trên được trưng bày trên website của Ebay như đồ vật cũ có từ thế kỷ 20, áo phông, túi thể thao…

Những chiếc mũ màu đen nổi bật với dòng chữ màu trắng Lehman Brothers có vẻ đắt hàng nhất khi có đến 13 khách hàng mua với giá 65 USD ngay từ phiên giao bán buổi sáng.

Các sản phẩm khác được hỏi mua nhiều gồm khăn tắm, gạt tàn thuốc lá, máy làm ẩm, ô dù, áo anorac. Chỉ sau hai giờ đấu giá, máy làm ẩm được trả 117,5 USD.

Minh Hằng (theo CyberPress)

Tâm lý trong nghề bán hàng

Bán hàng không nên là nghề bàn mưu tính kế, mà phải hướng đến mục tiêu dài hạn: mong muốn phục vụ cuộc sống. Chính ý thức xuyên suốt này sẽ tạo nên một người bán hàng giỏi.

Nghề bán hàng không chỉ cần tạo ra doanh số, bởi mục đích sâu xa của công việc này là phục vụ cuộc sống. Vì thế, người bán hàng cần có nghề… tâm lý.

Một cửa hàng bánh pizza ở nước ngoài ngày nọ đã áp dụng một hình thức khuyến mãi kỳ lạ: tặng bánh cho bất kỳ ai mang đến cửa hàng các trang quảng cáo về những cửa hàng bánh pizza khác, được xé ra từ quyển niên giám điện thoại. Kết thúc đợt khuyến mãi, doanh số bán hàng của cửa hàng tăng lên thấy rõ, vì phần lớn các quyển niên giám điện thoại ở đây chỉ còn quảng cáo về bánh pizza của cửa hàng trên!

Trong một cuộc thi tuyển nhân viên bán hàng, các ứng viên được yêu cầu trình bày về cách bán… đôi giày đang đi! Các cách chào hàng như “giày đã qua sử dụng nên được bán giá rẻ”; “sản phẩm bền tốt với thời gian”… đều bị loại. Thay vào đó, những ý tưởng như “người sử dụng từng gặp nhiều may mắn, hạnh phúc trong cuộc sống”; “đôi giày đã hiện diện trong nhiều cuộc tiếp xúc các khách hàng tên tuổi”… đều được đánh giá cao.

Hai ví dụ trên cho thấy, nghề bán hàng ngày nay đòi hỏi nhiều hơn tính sáng tạo và linh hoạt, bên cạnh sự kiên trì và nhẫn nại. Mọi sản phẩm đều có giá trị hữu hình như nhau nên giá trị vô hình tác động vào tình cảm, sự yêu mến của khách hàng mới làm nên sự khác biệt. Vì thế, một sản phẩm trà túi lọc đã thêm vào các giá trị “tái tạo năng lượng cơ thể, làm hưng phấn tinh thần” cho người làm việc văn phòng, bên cạnh tính năng giải khát thông thường; sản phẩm bánh không chỉ ăn để khoái khẩu mà còn giúp kết nối bạn bè trong những chuyến đi xa, tăng thêm trí tuệ với những dưỡng chất bổ sung nào đó…

Nội lực làm nghề

Nhưng sáng tạo trong nghề bán hàng không phải là dùng thủ thuật để qua mặt khách hàng. Bán hàng không nên là nghề bàn mưu tính kế, mà phải hướng đến mục tiêu dài hạn: mong muốn phục vụ cuộc sống. Chính ý thức xuyên suốt này sẽ tạo nên một người bán hàng giỏi. Họ chân thành mong làm cho cuộc sống của khách hàng cá nhân tốt đẹp hơn, công ty của khách hàng doanh nghiệp làm ăn hiệu quả hơn…

Hiện nay, nghề bán hàng ở Việt Nam vẫn chưa được xem trọng. Nhiều công ty dễ dàng sa thải nhân viên bán hàng vì cho rằng nguồn lực này không khó tuyển dụng, không cần đào tạo nhiều… Điều này đã làm lực lượng hành nghề bán hàng ở Việt Nam thiếu nội lực. Tức là họ không tin vào giá trị bản thân mình, không tin sản phẩm, dịch vụ của công ty cung cấp có thể mang lại giá trị cho khách hàng; họ cũng nghi ngờ văn hóa và chính sách của công ty, từ đó chỉ cần bán được hàng chứ không cần tạo dựng, duy trì uy tín của cá nhân và công ty.

Để bồi đắp nội lực này, người bán hàng cần hiểu được cá nhân họ, công ty họ làm việc, sản phẩm/dịch vụ họ đưa ra thị trường có thể mang đến giá trị gì cho khách hàng. Điều này có nghĩa, trong quá trình tiếp cận khách hàng, người bán hàng không nên khẳng định sản phẩm/dịch vụ hay công ty nào là hàng đầu. Thay vào đó, họ nên biết mình đang là “đại diện” cho điểm mạnh và điểm yếu nào. Nói cách khác, thị trường không thể có sản phẩm tuyệt đối, chỉ có sản phẩm phù hợp với từng đối tượng khách hàng.

Cho và nhận

Một vị khách ghé quán cà phê (có phục vụ cơm trưa văn phòng) vào buổi chiều mưa. Anh ta hỏi chủ quán còn đồ ăn không. Lúc này trong quán không có nhân viên làm bếp, nhân viên phục vụ quán cũng chưa đến giờ vào ca nhưng chủ quán vẫn nhã nhặn mời khách ngồi lại, rồi đội mưa đi gọi thức ăn cho khách. Câu chuyện này cho thấy người bán hàng phải có tinh thần phục vụ khách hàng. Đây chính là tinh thần “cho”, trước khi “nhận” trong nghề bán hàng.

Nếu chỉ bận tâm đến kết quả đạt được, chẳng hạn tiền nhận được từ khách hàng, người bán hàng sẽ không chú tâm vào chuyện chăm sóc, phục vụ các giá trị xứng đáng cho khách hàng. Họ chỉ nghĩ đến những mánh khóe khai thác, chinh phục khách hàng. Họ không biết rằng khách hàng rất dễ nhận biết điều này, bởi chúng thường được biểu hiện bằng những thái độ như cố giải đáp (dù không thuyết phục) mọi thắc mắc của khách hàng, thích hứa hẹn cho xong chuyện…

Vì vậy, người bán hàng giỏi trước hết phải có ý thức giúp đỡ người khác trong cuộc sống. Muốn vậy, họ cần có khả năng quan sát và tiếp cận tốt, để thấu hiểu tâm lý đối tượng cần hỗ trợ. Khả năng này sẽ đến từ thái độ biết lắng nghe và đặt câu hỏi. Nên hỏi nhiều hơn nói và phải hỏi trước khi nói để có thông tin cho những câu hỏi tiếp theo, để có thể trình bày vấn đề tốt hơn…

Nhưng cũng tránh hỏi những câu không cần thiết, chẳng hạn “anh/chị muốn mua sản phẩm X [mắc tiền] hay sản phẩm Y [rẻ tiền hơn]”, vì sẽ dễ khiến khách hàng bối rối do phải chọn lựa, thay vì tự quyết định việc mua hàng theo khả năng và nhu cầu riêng của mình.

Quy luật vàng

Quy luật này nói rằng, người bán hàng có đẳng cấp sẽ khiến khách hàng quên đi cảm giác đang bị thuyết phục mua hàng. Điều này thật cần thiết khi tiếp xúc với những khách hàng có vị thế xã hội, bởi họ thích tự quyết định hơn là bị dẫn dụ mua sắm. Vì thế, người bán không nên tiếp cận khách hàng bằng câu hỏi: “Anh/chị cần mua gì?”. Thay vào đó, hãy đứng xa khách hàng một khoảng cách nhất định, vừa đủ để kịp có mặt hỗ trợ khi phát hiện khách có ý định mua hàng.

Lưu ý rằng cần chọn đúng thời điểm khách cần mua hàng để tiếp cận. Tiếp cận sớm quá có thể khiến khách hàng có cảm giác bị làm phiền. Họ cũng sẽ mất “nhiệt tình” mua sắm nếu người bán chọn không đúng thời điểm tiếp cận. Các dấu hiệu sau đây giúp nhận biết khách hàng đã vào đúng… khoảnh khắc cần mua sắm: đảo mắt tìm phục vụ; mân mê, săm soi mãi một món hàng; chần chừ khi chọn lựa các sản phẩm; trao đổi với người đi cùng…

Hoặc người bán cũng có thể tiếp cận khách hàng bằng các chọn lựa: “Anh/chị là khách hàng cũ hay mới?”. Nếu là khách hàng cũ, “Chúng tôi có chương trình ưu đãi dành cho khách hàng trung thành…”. Ngược lại, “Cửa hàng đang có chương trình khuyến mãi dành cho khách hàng lần đầu đến mua sắm…”. Ở đây, người bán không hề đề cập đến chuyện mua hàng của khách, nhưng vẫn đang tìm cách thuyết phục khách mua hàng.

Bên cạnh đó, một người bán hàng giỏi sẽ luôn biết nắm bắt, đọc hiểu các tín hiệu của ngôn ngữ cơ thể không ngừng phát ra từ khách hàng. Nhiều nghiên cứu khoa học đã chứng minh: con người có thể điều khiển lời nói bởi nó thể hiện ý thức, nhưng ngôn ngữ cơ thể thì không bao giờ nói dối vì nó xuất phát từ tiềm thức. Vì thế, khả năng đọc ngôn ngữ cơ thể của khách hàng có thể giúp người bán hàng đo được năng lực hành nghề của mình.

Chẳng hạn, nếu khách hàng không muốn mua sản phẩm vì lý do nào đó, họ sẽ đưa tay chạm vào cơ thể; nói nhỏ, ngập ngừng; điệu bộ lóng ngóng; ánh mắt tránh nhìn vào người bán hàng…

Quách Tuấn Khanh (TBKTSG)

Bốn sai lầm lớn nhất trong tiếp thị trực tiếp

Theo Lee Marc Stein – một chuyên gia tư vấn trong lĩnh vực tiếp thị trực tiếp và viết quảng cáo nổi tiếng trên thế giới với nhiều năm kinh nghiệm trong việc giúp các công ty xây dựng các chiến lược và chiến thuật tiếp thị – khi xây dựng các chương trình tiếp thị trực tiếp, các doanh nghiệp thường mắc phải bốn sai lầm lớn sau đây:

1. Không vượt qua được sự hoài nghi và sức ì của người tiêu dùng

Chúng ta đang sống trong thời đại mà người tiêu dùng luôn tỏ ra hoài nghi. Thống kê cho thấy chỉ có 10% người tiêu dùng tin vào các chương trình quảng cáo. Hơn một nửa sinh viên đại học hiện nay đều tham gia vào các khóa học tiếp thị nên họ biết khá rõ các thủ thuật của các công ty quảng cáo. Nhiều doanh nghiệp làm tiếp thị đều nhận thức rằng dối trá là điều cấm kỵ, nhưng họ đã không nhận ra rằng cần phải chủ động và tích cực vượt qua sự hoài nghi của công chúng.

Các công ty thường nghĩ rằng hai từ “miễn phí” và “mới” là những từ đắt trong quảng cáo. Nhưng các chuyên gia tiếp thị cho rằng, điều quan trọng là doanh nghiệp phải giải thích được lý do tại sao lại có những lời quảng cáo đó. Đừng nên nghĩ rằng thông điệp quảng cáo của doanh nghiệp có thể dễ dàng tác động đến khách hàng mà không cần đến những nỗ lực để vượt qua sức ì và sự hoài nghi của khách hàng mà nguyên nhân là họ phải tiếp nhận hàng ngàn thông điệp tiếp thị và quảng cáo mỗi ngày.

2. Không tạo ra được sự khác biệt cho sản phẩm, dịch vụ hay lời chào hàng

Đây là hệ quả tất yếu của sai lầm nói trên. Doanh nghiệp không thể tháo bỏ được sức ì trong suy nghĩ của khách hàng nếu không tạo ra được sự khác biệt cho sản phẩm hay dịch vụ của mình. Doanh nghiệp còn phải sáng tạo ra lời mời chào thu hút và khác biệt khiến khách hàng phải dùng thử dịch vụ hay sản phẩm để hiểu được sự khác biệt của chúng. Nhưng nên nhớ rằng, dù có khác biệt thế nào thì lời mời chào cũng phải đơn giản, thể hiện được cái mà khách hàng thực sự mong muốn và không giống với cách làm của các đối thủ cạnh tranh.

3. Không thử nghiệm đầy đủ

Một công ty không thể thu được thành công một sớm một chiều khi thực hiện các hoạt động tiếp thị trực tiếp. Đã vậy, một số doanh nghiệp lại phạm phải một sai lầm lớn là không thử nghiệm một chương trình tiếp thị trực tiếp một cách thích đáng. Nếu gửi đi một danh sách tiếp thị bằng thư trực tiếp hay thư chào hàng chỉ một lần thì không thể kết luận hoạt động hay chương trình đó thành công hay không. Sai lầm khác trong thử nghiệm các chương trình tiếp thị trực tiếp là không nghiên cứu kỹ kênh truyền thông để tiếp thị. Không phải sản phẩm hay dịch vụ nào cũng đều có thể được tiếp thị thành công trên mạng Internet hay thông qua con đường gửi thư trực tiếp.

4. Không hướng đến khách hàng

Có thể nói mọi sai lầm đều bắt đầu từ đây. Mọi hoạt động, chương trình tiếp thị phải dựa trên việc nghiên cứu những suy nghĩ của khách hàng hiện tại và khách hàng tiềm năng. Nếu làm được điều này, doanh nghiệp sẽ hiểu được đời sống và hoàn cảnh của khách hàng, từ đó chọn lựa kênh truyền thông tốt nhất để tương tác với khách hàng. Khi hiểu được khách hàng, doanh nghiệp cũng sẽ có thể biết cách đưa ra những lời mời chào hấp dẫn.

Theo DNSGCT

Bốn yếu tố tạo nên thành công cho hoạt động market

Những yếu tố quan trọng đem đến thành công cho hoạt động marketing (MO) là gì, và làm thế nào các công ty hàng đầu có thể quản lý và kết hợp các yếu tố hữu ích này? Để hiểu rõ hơn, gần đây Marketing Operations Partners đã thực hiện một cuộc thăm dò ý kiến của hơn 80 nhà lãnh đạo trong marketing.

Các kết quả quan trọng thu được từ cuộc tham dò.

Những người tham gia trong cuộc khảo sát đưa ra 4 yếu tố quan trọng tạo ra sự thành công cho MO:

Tính rõ ràng và kiên định trong tổ chức – các kinh nghiệm phải được chia sẻ, chiến lược marketing phải được xác định một cách rõ ràng và có cấu trúc mở, được truyền đạt một cách rõ ràng đến tất cả các thành viên, có tính thuyết phục, tất cả mọi người trong tổ chức phải nắm được mục tiêu của chiến lược.

Sự ủng hộ tích cực từ phía ban lãnh đạo, nhằm củng cố các giá trị của hoạt động marketing trong việc hoàn thành các mục tiêu của tổ chức.

Một nền văn hóa rõ ràng trong tổ chức, có khả năng khơi dậy và thúc đẩy nhiệt huyết của nhân viên trong công việc.

Các quy trình và công nghệ là công cụ đem đến khả năng thúc đẩy và duy trình sự hoàn hảo trong hoạt động marketing.

Để có cái nhìn sâu rộng hơn về chức năng hiện tại của hoạt động marketing, một cuộc khảo sát đã được thực hiện và được đánh giá theo những tiêu chuẩn của Marketing Operations Partners đã có được sự phản hồi từ hơn 80 công ty hoạt động trong lãnh vực công nghệ, Phần lớn những người tham gia đều là CMOs,VPs của các giám đốc marketing và giám đốc marketing của các tập đoàn, những người đảm nhiệm trọng trách cao trong hoạt động marketing tại các công ty nằm trong tốp 100, 500 và 1000 theo bình chọn của Fourtune.

MO là gì và tại sao nó lại quan trọng?

MO là một thuật ngữ, được định nghĩa theo những cách khác nhau trong mỗi tổ chức. Chúng ta định nghĩa MO như là một nguyên tắc sử sự, kỹ thuật, sự hướng dẫn và ngôn ngữ có tác dụng thúc đẩy các giá trị trong việc quản lý các hoạt động thuộc chức năng của marketing, biến hoạt động marketing trở thành trung tâm của mọi lợi ích và một hoạt động kinh doanh quan trọng. Mục đích của MO là thực hiện 2 nhiệm vụ sau đây một cách hiệu quả:

Hoàn thành các mục tiêu của tổ chức bằng việc củng cố các chiến lược và chiến thuật marketing với một cơ cấu tổ chức phù hợp tạo ra khả năng chống đỡ và thúc đẩy sự phát triển.

Nuôi dưỡng tính lành mạnh trong môi trường của tổ chức, một môi trường có tính hợp tác cao cả trong lẫn ngoài bộ phận marketing. Điều này, cho phép mọi người có thể đánh giá, giá trị của hoạt động marketing theo hướng lạc quan hơn và khuyến khích sự mạnh dạn trong công việc.

Câu hỏi là: Những yếu tố nào giúp MO thành công?


1. Xác định rõ ràng và tuân thủ chặt chẽ.

Để có được để có thể thực hiện các hoạt động marketing một cách tốt nhất, thì tính rõ ràng và kiên định trong hoạt động của tổ chức là cực kỳ quan trọng. Tất cả các nhân tố phải xoay quanh tầm nhìn và chiến lược chung, tạo ra khả năng thực hiện các hoạt động một cách nhất quán, xác định các hoạt động có liên quan và đem đến một hệ thống phản hồi từ khách hàng hiệu quả.

Với các công ty thực hiện hoạt động marketing tốt, luôn có một nền văn hóa ở cấp độ tập đoàn mà ở đó luôn có chỗ cho sự mạnh dạn. Trong ngắn hạn, sự thành công được lèo lái bởi những quy trình, giúp hòa nhập vào môi trường kinh doanh, một cấu trúc tổ chức được xây dựng phù hợp, hoạt động truyền thông rõ ràng và rộng khắp, và tiếp tục các luận điệu đầy kên định đến những người đứng đầu tổ chức.

2. Sự ủng hộ tích cực từ phía ban quản trị

Rõ ràng những người tham gia cuộc điều tra cảm thấy rằng, chức năng của hoạt động marketing có thể phát triển tốt nhất trong một môi trường, mà ở đó họ luôn có sự ủng hộ và hỗ trợ từ phía lãnh đạo. Trong viễn cảnh tốt nhất, hoạt động marketing cần phối hợp chặt chẽ với hoạt động bán hàng và phải được đánh giá cao trong tổ chức về khả năng đóng góp, và đem lại lợi ích.

Theo điều kiện lý tưởng, một CMO hay bất kỳ một người phụ trách marketing cấp cao nào phải coi mình như một khách hàng nội bộ, để xem xét các chiến lược chính, cũng như hoạt động marketing. Khi thực hiện điều này cũng cần xem xét đến bản chất của những vấn đề mà ban lãnh đạo quan tâm.

Để thực hiện mọi hoạt động một cách tốt nhất, thì chìa khóa chính là sự ủng hộ liên tục từ CEO và các thành viên khác của ban quản trị. Hoạt động marketing cần được thừa nhận như một tài sản quý giá tại cấp độ công ty. Nó cần chia sẻ tầm nhìn và mục tiêu của công ty với các bộ phận chức năng khác.

Với sự ủng hộ tích cực từ ban quản trị, chức năng của hoạt động marketing có thể tham gia vào nhiều công việc khác nhau cùng với các bộ phận chức năng khác như, xây dựng ý tưởng và phát triển sản phẩm mới, tham gia vào các dự án quan trọng ở tầm chiến lược….

3. Nuôi dưỡng môi trường văn hóa hỗ trợ

Cùng với việc xây dựng một cơ cấu tổ chức phù hợp và sự ủng hộ tích cực từ phía lãnh đạo, những người tham gia cuộc khảo sát cũng tin rằng, một môi trường văn hóa có tính tương hỗ trong tổ chức sẽ đem đến thành công cho hoạt động marketing. Khả năng hỗ trợ lẫn nhau, trước tiên sẽ đem đến hiệu quả cho hoạt động marketing và sau đó sẽ mở rộng sang các hoạt động khác tạo ra khả năng phối hợp giữa nhiều nhóm chức năng khác nhau như Sale,Tài chính và IT.

Trong những tổ chức thực hiện tốt các hoạt động marketing, đội ngũ nhân viên marketing luôn được đánh giá cao và được hỗ trợ đầy đủ, và những đóng góp của họ được thừa nhận một cách rộng rãi. Một môi trường văn hóa có tính giải trình rõ ràng và có khả năng tạo ra động lực làm việc tạo lên nền tảng của một môi trường mang đậm tính tương hỗ. Hoạt động bán hàng và hoạt động marketing luôn được kết hợp chặt chẽ với nhau và hỗ trợ nhau, điều này mang lại nhiều lợi ích hơn cho tổ chức.

4. Sự chọn lọc và kĩ thuật mang đến lợi ích cao

Khi các công ty thực hiện việc chọn lọc và áp dụng các kỹ thuật trong hoạt động marketing, họ nhận thấy rằng chi phí hoạt động sẽ được giảm thiểu và hiệu quả tăng cao hơn. Họ có thể xác định và loại bỏ các khoản đầu tư không cần thiết cho các kế hoạch nghèo nàn hoặc sự dư thừa nhân công. Họ có thể phá vỡ sự trì trệ trong hoạt động và nhận được các khoản tài trợ để thực hiện các hoạt động xúc tiến quan trọng có tính chiến lược. Những người tham gia cuộc khảo sát đưa ra những ý kiến riêng của họ.

  • “Mọi thứ tiến triển tốt đẹp hơn vì chúng tôi có cùng quan điểm”.

  • “Chúng tôi xây dựng các chiến lược, kế hoạch hành động hàng năm. Các kế hoạch này được dự trù rất chi tiết tạo thành những khuôn mẫu có thể lặp lại”.

  • “Chúng tôi trở lên có tầm ảnh hưởng và hiệu quả hơn, và có một quy trình tốt để ngăn chặn những hoạt động không gia tăng giá trị”

  • “Chúng tôi cạnh tranh lành mạnh và mạnh mẽ bằng phương pháp marketing kết hợp web, in ấn, và marketing trực diện”.

Với sự chọn lọc và áp dụng các kỹ thuật, giá trị của hoạt động marketing có thể được nhận diện và phát triển lâu dài.

Kết luận

Hoạt động marketing thành công đòi hỏi những mục tiêu rõ ràng, một cơ sở hạ tầng vững mạnh, một hệ thống đáng tin, sự ủng hộ từ phía ban quản trị, sự hợp tác và phối hợp giữa các bộ phận, chọn lọc quá trình và kĩ thuật.

Các nhân tố trên đang nằm trong vòng kiểm soát của các nhà quản trị cấp cao. Chúng có thể giúp một công ty tạo nên sức mạnh cho hoạt động marketing khi nó được kết hợp với sự hiểu biết sâu rộng về nguyên tắc căn bản của hoạt động marketing.

Kêu gọi hành động

Nếu công ty bạn đang đối mặt với bất cứ yếu tố nào đã được đề cập trong bài viết này hay nếu bạn đang nghĩ về việc tạo ra một hoạt động marketing, hay tăng tính hiệu quả cho những gì bạn có, bạn nên bắt đầu với công việc “đánh giá tình trạng hiện tại” vì điều này sẽ giúp cho bạn đánh giá được tình trạng của hoạt động marketing hiện tại của bạn.

Làm như vậy sẽ giúp bạn tập trung vào những thử thách, khó khăn mà bạn gặp phải, cũng như chúng là những cơ hội lớn trong việc mang lại các lợi ích thiết thực của những hoạt động đem lại thành công cho hoạt động marketing.

Theo MF , Lantabrand lược dịch

Slide mới

Đơn giản và đẹp

Art_1

Hạ viện Mỹ phê chuẩn kế hoạch 700 tỷ USD cứu ngành tài chính

Trong một thời khắc lịch sử, Hạ viện Mỹ vừa thông qua kế hoạch 700 tỷ USD nhằm giải cứu ngành tài chính nước này thoát khỏi khủng hoảng.

Với 263 phiếu thuận và 171 phiếu chống, kết quả bỏ phiếu được đưa ra lúc hơn 0h ngày 4/10 theo giờ Việt Nam này không phải là một kết quả bất ngờ đối với giới quan sát, nhưng được coi là một quyết định khiến cả thế giới “thở phào”, vì cách ít ngày, Hạ viện Mỹ đã gây một cú sốc lớn khi nói “không” với bản “đại kế hoạch” này.

Phát biểu trước Hạ viện Mỹ trong cuộc họp vừa kết thúc, Chủ tịch Hạ viện Nancy Pelosi nhấn mạnh sự cấp thiết phải thông qua kế hoạch này, cho rằng Hạ viện Mỹ phải hành động, không phải vì riêng Phố Wall, mà là vì tương lai của nước Mỹ, vì chính những người anh em và bạn bè của họ.

Thị trường chứng khoán Mỹ đã tăng điểm mạnh mẽ, với các chỉ số chính tăng trên dưới 3%, ngay giữa lúc các hạ nghị sỹ đang tiến hành bỏ phiếu. Giá dầu thô cũng phục hồi, trong khi giá vàng tiếp tục giảm.

Lý do Hạ viện thay đổi quan điểm

Vào buổi sáng ngày 3/10 tại Mỹ, trước khi diễn ra cuộc bỏ phiếu, lãnh đạo đảng Dân chủ trong Hạ viện cho biết họ tin tưởng kế hoạch này sẽ được thông qua. Giới quan sát cũng hết sức lạc quan với niềm tin rằng Hạ viện sẽ thông qua bản kế hoạch.

Trước khi Hạ viện Mỹ nhóm họp, Tổng thống Mỹ George Bush đã thúc giục các nhà làm luật thông qua kế hoạch này. Một người phát ngôn của Nhà Trắng cho biết, ông Bush muốn phê chuẩn kế hoạch này càng nhanh càng tốt để đưa kế hoạch thành một đạo luật.

Lãnh đạo phe thiểu số tại Hạ viện Toy Blunt cho biết, có khả năng hai lý do dưới đây đã khiến các hạ nghị sỹ đảng Cộng hòa bỏ phiếu chống kế hoạch trong  cuộc bỏ phiếu lần trước thay đổi quan điểm trong lần bỏ phiếu này.

Thứ nhất, ngày càng có nhiều các cuộc điện thoại của cử tri gọi tới các văn phòng của đảng Cộng hòa bày tỏ sự ủng hộ đối với kế hoạch. Không ít cử tri Mỹ đã hoảng sợ khi chứng kiến thị trường chứng khoán Phố Wall chao đảo, khiến hơn 1.000 tỷ USD giá trị của các cổ phiếu biến mất trong giây lát sau khi Hạ viện Mỹ từ chối thông qua bản kế hoạch hôm 1/10.

Thứ hai, các điểm mới mà Thượng viện đã bổ sung vào kế hoạch là hợp với nguyện vọng của các hạ nghị sỹ Cộng hòa bỏ phiếu chống lần trước, bao gồm mở rộng các chương trình ưu đãi thuế, làm rõ quy tắc kế toán điều chỉnh theo thị trường, và tăng trần bảo hiểm tiền gửi của Tập đoàn Bảo hiểm Liên bang Mỹ (FDIC) từ mức 100.000 USD lên mức 250.000 USD.

Một ngày trước khi diễn ra cuộc bỏ phiếu ở Hạ viện lần này, Chủ tịch Hạ viện Nancy Pelosi cho biết, nếu Hạ viện tiếp tục bổ sung thêm các điều khoản mới vào dự thảo luật này, Thượng viện sẽ phải họp lại một lần nữa để bỏ phiếu thông qua đạo luật. Tuy nhiên, điều này đã không xảy ra, bất chấp nỗ lực của một số hạ nghị sỹ phe Cộng hòa đề xuất chỉ sử dụng 250 tỷ USD cho kế hoạch.

Các điểm chính của kế hoạch

Kế hoạch giải cứu này gồm các điểm chính sau:

- Chống khủng hoảng: Bộ Tài chính được sử dụng khoản tiền 700 tỷ USD theo từng giai đoạn để mua nợ xấu của các tổ chức tài chính. Trong đó, 250 tỷ USD sẽ được cấp ngay lập tức trong đợt đầu.

- Tăng trần bảo hiểm tiền gửi: Mức tiền bảo hiểm tối đa của FDIC đối với các tài khoản tiết kiệm của người dân trong các ngân hàng tạm thời tăng từ mức 100.000 USD lên mức 250.000 USD. FDIC cũng tạm thời có quyền vay tiền không hạn chế từ Bộ Tài chính để bù đắp cho khoản tiền bảo hiểm tăng thêm này.

Điều khoản này nhằm mục đích tăng cường niềm tin của người dân vào hệ thống ngân hàng và như thế sẽ không ồ ạt đi rút tiền.

- Bảo vệ người nộp thuế: Nếu Chính phủ Mỹ thua lỗ vì trả giá quá cao cho các khoản nợ xấu, đạo luật yêu cầu Tổng thống phải đề xuất một kế hoạch thu hồi vốn trong trường hợp kế hoạch này thua lỗ trong vòng 5 năm kể từ ngày có hiệu lực. Bộ Tài chính được phép có cổ phần sở hữu trong các doanh nghiệp tham dự chương trình.

- Cắt giảm thuế:

+ Mở rộng chương trình ưu đãi thuế năng lượng tái sinh đối với các cá nhân và doanh nghiệp, bao gồm việc chiết khấu thuế đối với việc mua các tấm pin nhiên liệu mặt trời. Chương trình cắt giảm thuế này có trị giá 17 tỷ USD.

+ Tiếp tục gia hạn thêm một số chương trình cắt giảm thuế đã hết hạn, trong đó có các loại tín dụng thuế nghiên cứu và phát triển dành cho các doanh nghiệp và tín dụng thuế cho cá nhân. Chương trình kéo dài 2 năm này trị giá 42 tỷ USD.

+ Kế hoạch cũng bao  gồm việc thêm 1 năm nữa người Mỹ không phải nộp thuế tối thiểu lựa chọn (AMT), loại thuế mà 24 triệu hộ gia đình ở Mỹ sẽ phải nộp tổng số tiền thuế thu nhập 62 tỷ USD vì sự giàu có của họ.

- Các quy định kế toán mới: Ủy ban Giao dịch và Chứng khoán Mỹ (SEC) có thẩm quyền đình chỉ các tiêu chuẩn kế toán điều chỉnh theo thị trường – các quy định đòi hỏi các công ty định giá tài sản của họ tại mức giá thị trường hiện tại, thay vì giá trị dự kiến.

Các tập đoàn ở Phố Wall đã phàn nàn nhiều rằng quy định này là phi thực tế vì buộc họ phải định giá hàng tỷ USD nợ xấu bất động sản ở mức giá bèo bọt, khiến thị trường mất niềm tin nghiêm trọng vào ngành tài chính, làm cho khủng hoảng thêm trầm trọng.

- Chương trình bảo hiểm: Bộ Tài chính sẽ thành lập một chương trình bảo hiểm dành cho các tài sản xấu của các doanh nghiệp với mức phí do các doanh nghiệp trả dựa trên mức độ rủi ro của tài sản.

- Hạn chế lương thưởng cho các lãnh đạo doanh nghiệp: Lương thưởng cho các doanh nghiệp bán tài sản hoặc mua bảo hiểm của Chính phủ Mỹ theo chương trình này sẽ bị hạn chế.

- Thành lập hai ủy ban giám sát: Ủy ban thứ nhất có tên Ủy ban Ổn định Tài chính sẽ bao gồm Chủ tịch FED, Chủ tịch Ủy ban Giao dịch và Chứng khoán (SEC), Giám đốc Cơ quan Tài chính Địa ốc Liên bang, Bộ trưởng Bộ Nhà đất và Phát triển đô thị, Bộ trưởng Bộ Tài chính.

Ủy ban thứ hai là một ủy ban của Quốc hội bao gồm 5 thành viên do lãnh đạo Thượng viện và Hạ viện chỉ định trong số các thành viên của hai đảng. Ủy ban Ổn định tài chính phải báo cáo lên ủy ban này.

- Chi phí: Theo tính toán của Liên ủy ban về thuế, các điều khoản về thuế trên có thể khiến thu nhập từ thuế của Chính phủ Mỹ giảm 110 tỷ USD trong vòng 10 năm tới. Hãng tin CNBC thì cho rằng, chi phí cho các điều khoản mới về thuế trong kế hoạch sẽ là 150 tỷ USD.

Kế hoạch can thiệp lịch sử

Kế hoạch nói trên là hành động can thiệp mạnh nhất của Chính phủ Mỹ vào nền kinh tế nước này từ Đại khủng hoảng 1929 tới nay. Kế hoạch được đưa ra trong bối cảnh khủng hoảng tài chính ở Mỹ khiến hàng loạt tập đoàn lớn trong ngành tài chính không chỉ ở Mỹ mà còn ở châu Âu phá sản, bị quốc hữu hóa hoặc thâu tóm.

Sự thắt chặt tín dụng do các ngân hàng mất niềm tin trong việc cho vay đã khiến kinh tế toàn cầu nói chung, và các nền kinh tế đầu tàu của thế giới nói riêng giảm tốc mạnh mẽ, thậm chí có nguy cơ rơi vào suy thoái.

Trong lúc Hạ viện Mỹ đang nhóm họp, Bộ Lao động Mỹ công bố số liệu cho thấy, nước Mỹ mất 159.000 việc làm trong tháng 9, mức sụt giảm mạnh nhất từ tháng 3/2003 trở lại đây. Tháng 9 là tháng thứ 2 liên tiếp, tỷ lệ thất nghiệp của Mỹ ở mức 6,1%, cao nhất từ tháng 9/2003 tới nay.

Kế hoạch này là ý tưởng của Bộ trưởng Tài chính Mỹ Henry Paulson và Chủ tịch Cục Dự trữ Liên bang Mỹ FED đưa ra ngày 19/9. Sau đó, bản kế hoạch nhận được sự thỏa thuận giữa Chính phủ Mỹ và Quốc hội vào ngày  27/9.

Trong cuộc bỏ phiếu ở Hạ viện ngày 29/9, kế hoạch này đã bị bác bỏ, rồi lại được Thượng viện Mỹ thông qua ở cuộc bỏ phiếu ngày 1/10, trước khi được thông qua trong cuộc bỏ phiếu lần cuối này tại Hạ viện.

Kế hoạch này nhận được nhiều sự ủng hộ và cả không ít những lời chỉ trích. Những người ủng hộ kế hoạch cho rằng kế hoạch này là tối quan trọng trong những nỗ lực của Chính phủ Mỹ nhằm “phản công” lại cuộc khủng hoảng tài chính nghiêm trọng hiện nay.

Những người phản đối thì cho rằng, kế hoạch này chỉ làm lợi cho Phố Wall, nơi đã đưa ra những quyết định sai lầm dẫn tới cuộc khủng hoảng này, tạo gánh nặng cho người nộp thuế và không thể giải quyết được những vấn đề kinh tế thực sự mà nước Mỹ đang phải đối mặt.

(Theo CNN, CNBC, Bloomberg, VnEconomy)

Bán hàng – Một môn nghệ thuật với đúng nghĩa

Bán hàng luôn được coi là một môn nghệ thuật nên mỗi người bán hàng (seller) cần phải có những tố chất riêng để đi đến thành công. Ngoài tài giao tiếp cùng khả năng nắm bắt tâm lý khách hàng, còn có những bí quyết khác nhau để trở thành một seller hàng đầu:

- Duy trì thái độ tích cực cho bản thân trong công việc. Nếu gặp trục trặc, đừng than vãn mà hãy kiên định đứng lên để sửa sai.

- Biết tổ chức, sắp xếp gian hàng một cách khoa học nhất để có thể đem lại doanh thu bán hàng cao nhất.

- Cần có nhiều cách tiếp cận với từng đối tượng khách hàng khác nhau sao cho phù hợp nhất.

- Luôn nhớ rằng khi đi mua hàng, khách hàng luôn ở thế “bị động” vì họ thiếu niềm tin. Bạn cần tạo dấu ấn trước khách hàng bằng cách trả lời rõ ràng và chi tiết mọi thắc mắc. Ngoài ra, hãy tìm hiểu thật thấu những điều khiến khách hàng “thắc mắc” và bất an để từ đó đưa ra lời khuyên hiệu quả nhất.

- Catalog về các sản phẩm là vật bất ly thân khi gặp khách hàng. Nên để lại catalog cho khách hàng, hãy quay trở lại sau một thời gian đủ để khách hàng đã nghiên cứu kỹ về sản phẩm, khi đó bắt đầu tư vấn về từng loại sản phẩm, đặc biệt là những sản phẩm mà khách hàng tỏ ý hứng thú.

- Nên dùng những câu hỏi mở, không nên đặt những câu hỏi mà câu trả lời chắc chắn sẽ chỉ là “không” hoặc “có”.

- Chủ động nắm rõ số lượng hàng còn trong kho. Nếu có sản phẩm nào không còn, cần khéo léo hướng khách hàng sang một sản phẩm tương tự.

- Giới thiệu thêm về những sản phẩm sắp hết mùa vụ với những khuyến mãi hấp dẫn khách hàng.

Sale2_saga.gif- Hiểu rõ sản phẩm, giá niêm yết, cách sử dụng, những đặc điểm khác biệt nổi trội so với các sản phẩm tương tự khác. Chủ động đề cập đến các sản phẩm mới trước khi khách hàng hỏi.

- Cảm ơn khách hàng (phải biết và nên nhớ tên khách hàng) dù bán được hàng hay không và có những động thái giữ liên lạc một cách lịch sự nhất (thiệp chúc mừng nhân dịp lễ tết…) trong thời gian sau đó.

Theo Saga

Đằng sau một câu slogan thành công

Slogan là thứ mà chúng ta phải nghe, đọc và tiếp nhận hàng trăm lần mỗi ngày. Không tin? Đó là một thực tế chứng minh rằng bạn, với tư cách là một người tiêu dùng, đang bị bội thực slogan. Và hầu như tất cả các slogan đó trở nên vô hình, trong suốt trước mắt bạn, hoặc vô thanh qua tai bạn.

Vấn đề là làm thế nào để có một slogan thành công? Sau đây là một case study mà tôi nghĩ là có thể có ích cho một số bạn đọc.

Hãy thử đếm trong đầu.

Trên đường đi làm, có bao nhiêu bảng hiệu lướt qua mắt bạn? Có bao nhiêu bảng quảng cáo? Hay trước mỗi cầu thang máy, bạn vô tình xem bao nhiêu thông điệp quảng cáo? mỗi giờ trước tivi, bạn nghe và đọc được bao nhiêu slogan?

Và điểm lại, bạn nhớ được bao nhiêu? Bạn thực sự thích bao nhiêu?

Tôi đặt câu hỏi này với vài người. Con số nhớ được tức thời thường là 3-5, còn con số mà họ thích chỉ là 1 hay 2.

Slogan được nhiều người thích nhất, cho dù nó không thực sự là một slogan, chính là “có thể bạn không cao, nhưng người khác vẫn phải ngước nhìn“. Tôi chưa tin, nên thử Google nó, và kết quả là hơn 40 trang kết quả, cho thấy nó được trích dẫn nhiều như thế nào, trở nên phổ biến như thế nào.

Và tôi nghĩ sự phổ biến của nó xứng đáng được viết thành một case study. Để biết tại sao nó không trong suốt như những câu slogan khác.

Tôi vẫn còn nhớ, từ ngày nhận được đề nghị pitch của Bia Sài gòn cho đến khi tôi có câu slogan đó trong đầu là gần 3 tuần.

Ba tuần đó đối với tôi là một khỏang thời gian dài. Rất dài. Luôn phải đối mặt với bản thân mình. Luôn có nhiều phương trình không hoàn chỉnh trong đầu, chọn lựa, phân tích, thử và sai. Và luôn sống trong sự sợ hãi. Sợ sự bất lực của bản thân mình.

Cuối cùng, tôi đã vượt qua nó. Tưởng như nhờ một sự tình cờ, mà liên tưởng về chuyện “lùn” của chai bia gắn kết khéo léo với một insight được tôi suy nghĩ trước đó. Tôi chỉ nói là “tưởng như”. Vì người ta thường nghĩ đến chữ “sáng tạo” một cách tình cờ, mà ít ai hiểu được rằng đằng sau sự tình cờ ấy là một quá trình phân tích và sàng lọc kỹ càng trên phương diện chiến lược.

Mà chiến lược ấy của bia Sài gòn lùn, không có gì khác hơn là “bia của người Việt nam”. Chiến lược đó không phải do tôi sáng tạo. Nó là chiến lược truyền thông có sẵn của Bia Sài gòn. Tôi chỉ suy nghĩ, phân tích, đánh giá, lọc lựa nó trong quan hệ với đối thủ cạnh tranh, với môi trường tiêu dùng, với môi trường quảng cáo, để cuối cùng tự thuyết phục mình đó là chiến lược tốt nhất.

Và từ chiến lược đó, tôi hình dung ra các insights có thể của người tiêu dùng. Câu hỏi tôi tự đặt ra là “họ sẽ gặp vấn đề gì khi vào quán gọi bia này so sánh với bia ngọai?” “Họ nhận thức thế nào về bản thân họ, và hình ảnh của chai bia này?” “Một hình ảnh như thế nào giúp họ vượt qua nhận thức tiêu cực đó?” “Nhưng có tiêu cực hay không?” “Bản chất của sự trung thành của người uống bia là gì?

Tôi sống với các câu hỏi đó trong gần suốt 3 tuần. Ăn, ngủ với chúng. Lo lắng.

Điều tôi luôn lo lắng, là những câu hỏi của mình đặt ra có chủ quan không? Có đúng là người ta suy nghĩ như thế không? Tôi luôn phải kiểm chứng những nghi ngờ của mình bằng mọi cách có thể. Trò chuyện về bia với bất kỳ ai có thể. Thu hẹp bớt các câu hỏi. Rồi ngày mai lại lật tung lên tất cả mọi thứ, bắt đầu lại từ đầu.

Quá trình đó lặp đi, lặp lại nhiều lần, để giải quyết tất cả những ghi ngại. Để cuối cùng, tôi xác tín được với bản thân mình ở ba điểm. Thứ nhất, chiến lược “Bia nội – Bia ngoại′ là chiến lược khôn ngoan, vì nó là lưỡi kiếm vạch đôi sơn hà. Thứ hai, người tiêu dùng uống bia hòan tòan là vì hình ảnh bia, chứ không phải là “hương vị” như kết quả FGDs thu được. Thứ ba, những người uống bia Saigon lùn cần được khơi dậy lòng tự hào cá nhân một cách hợp lý.

Đến đây, tôi mới thực sự bắt đầu “viết” slogan.

Cứ mỗi một slogan nháp ra được trong đầu, tôi phản bác nó bằng cách so sánh nó với những điều mà tôi đã xác tín. Và số lượng những kẻ chết non nhiều vô kể.

Hồi đó, tôi đã rất trễ so với kế họach thời gian. Nhiều lúc tôi nghĩ, chỉ có phép màu mới có thể giúp tôi hòan thành công việc.

Và phép màu đến thật. Vào một buổi trưa, sau khi tôi ăn vội bữa cơm văn phòng, lơ đãng ngó lên chiếc tivi trước mặt đang phát bộ phim “Thần Điêu Đại Hiệp”. Bộ phim hiển nhiên chẳng liên quan gì đến những câu hỏi của tôi. Nhưng tác giả của nó thì có. Lúc đang miên man theo những dòng suy nghĩ của mình về Kim Dung, đến ý nghĩ “ông là một tác gia giàu có, và ông có tướng ngũ đỏan”. Và thế là lời giải đến trong đầu tôi ngay tức khắc; một liên kết có lý giữa Việt Nam – Lùn – Tự hào về bản thân.

Mọi chuyện còn lại chỉ là lịch sử.

Một chút nói thêm. Ngày đó, tôi là Creative Director của công ty quảng cáo StormEye. Tôi cho rằng StormEye hòan tòan có lý để tự hào rằng StormEye là công ty làm ra nó. Nhưng tôi thực sự buồn cười khi được biết rằng, có nhiều người chưa từng ở StormEye ngày nào, vẫn claim là họ dính dáng đến câu slogan đó. Một người bạn mới quen thậm chí còn cho tôi biết rằng, ông ta gặp ít nhất là 10 người tự xưng là tác giả của nó.

Theo Saga

5 mẹo tiếp thị qua email của nhóm B2B

Hiện tại chúng tôi, những nhà tiếp thị qua email, đang ở trong thế tiến thoái lưỡng nan. Một mặt, chúng tôi nổi tiếng là nguồn truy cập đem lại doanh thu nhanh chóng. (Tuần này, có ai nói “Này, số lượng khách đăng kí của chúng ta giảm rồi, hãy gửi email khác đi.” không?). Mặt khác, thật “nực cười” làm sao những lời khen ngợi đã lắng dần khi những cuộc bàn tán xôn xao về ngân sách lại nổi lên và chúng ta cứ chết dần vì sự đầu tư có giới hạn cùng nguồn cung cấp đang cạn kiệt.

Vậy một nhà tiếp thị qua email phải làm gì?

Từ thực tế đó, tôi sẽ tổ chức một nhóm hội thảo của những nhà tiếp thị hàng đầu tại Hội thảo marketing của nhóm MarketingProfs B2B vào tháng 6 tới. Những thành viên đăng kí trang blog ReturnPath có thể tiết kiệm 200 đô-la Mỹ bằng cách sử dụng mã số khuyến mãi.

Sau đây là 5 ý tưởng từ nhóm người tham gia hội thảo mà tôi tổ chức tại Hội thảo marketing của nhóm MarketingProfs B2B vào tháng 6 mà bạn có thể áp dụng cho chương trình riêng của mình. Tôi sẽ nói chi tiết hơn với 5 ý tưởng này tại buổi hội thảo.

1. Biến suy thoái thành lợi thế

Nhờ đơn giản và không tốn kém, ngày càng nhiều doanh nghiệp gửi thông điệp của họ qua email. Bạn có thể thấy kết quả là hộp thư của bạn ngày càng nhiều thư quảng cáo hơn.

Điều đó đồng nghĩa với việc những lá thư của chúng ta phải thu hút hơn những phương tiện khác mới có thể tạo ra sự đột phá. Để có được những lá thư đó, bạn cần phải tạo ra những trải nghiệm tuyệt vời cho người đăng kí nhận email. Và điều này đòi hỏi phải kỷ luật trong việc định kỳ gửi thư, phân loại thư, tập hợp dữ liệu, cải tiến các phương pháp và báo cáo, do đó đòi hỏi phải có nhiều sự đầu tư hơn trong lĩnh vực này.

Cho nên khi bạn cảm thấy áp lực vì phải làm nhiều hơn và với ít vốn hơn thì hãy tập trung vào việc chứng tỏ làm thế nào việc gửi thư đến nhiều mục tiêu hơn sẽ được hồi âm nhiều hơn và tăng thêm giá trị cho email của bạn. Chẳng hạn, hãy gửi một lá thư cho khách hàng về các sự kiện liên quan đến họ như: Việc gia hạn, kỷ niệm ngày kí hợp đồng, nâng cấp, số lượt sử dụng, những điều mới mẻ trong mối quan hệ,… Hãy chứng tỏ những lá thư đó tạo ra nhiều hứa hẹn hơn như thế nào để khiến bất cứ ai đăng kí nhận email cũng tự động nhận chúng.

2. Hoàn thiện bảng thông cáo về tiện ích của sản phẩm

Email là loại hoàn vốn đầu tư (ROI) cao nhất, vì thế hãy nắm chắc việc thu thập những địa chỉ email từ bất cứ điểm truy cập nào. Vì bạn muốn có được email từ bất kì sự truy cập nào nên trang chủ của bạn có thể không phải là nơi dừng chân tốt nhất nếu hầu hết khách hàng truy cập trang web của bạn từ nhiều đường dẫn khác nhau.

Vì thế cần phải đảm bảo có một bảng thông cáo về lợi ích của trang web một cách hấp dẫn và rõ ràng tại mọi trang tìm kiếm và quảng cáo, tại phần dưới cùng của mỗi bài viết gửi lên blog, trong những cuộc giao dịch buôn bán hay chăm sóc khách hàng bằng điện thoại, trong các diễn đàn trực tuyến và mọi trang download về hướng dẫn sử dụng sản phẩm.

Bí quyết ở đây chính là “sự hấp dẫn”. Những thông cáo sản phẩm và thông cáo báo chí thì không hấp dẫn. Ý tưởng là ở đây là: Mẹo vặt sản xuất, tin tức tay trong, cơ hội kết nối với bạn bè, lời mời đến những sự kiện tuyệt vời, và truy cập độc quyền.

3. Sự phân chia đơn giản là cần thiết

Nếu không có sự phân chia nào khác, hãy phân biệt những lá thư dành cho khách hàng tiềm năng và khách hàng quen thuộc. Đây là những nhóm đặc biệt khác nhau có mối quan hệ khác nhau đối với thương hiệu, sản phẩm và có mức độ hiểu biết khác nhau về tiện ích của sản phẩm và giải pháp của bạn. Tùy theo khách hàng mà bạn có cách đối xử khác nhau, nếu không bạn sẽ không còn cái nhìn lạc quan về việc tiếp thị qua email nữa.

4. Danh tiếng của người gửi cũng là vấn đề đối với nhóm B2B

Mặc dù nhiều nhà tiếp thị B2B nghĩ rằng những phản hồi họ nhận được từ những trang web cơ sở của các nhà cung cấp dịch vụ Internet (ISPs) như AOL, Yahoo và MSN/Hotmail không thích hợp, vì những tệp tin của họ không liên quan đến những tên miền này và ngược lại.

Những nhà cung cấp dịch vụ Internet đưa ra các phản hồi quan trọng về tiếng tăm của người gửi thư cho bạn dựa trên lời góp ý (được đăng ký với nhà cung cấp khi người đăng kí nhấp chuột vào nút “This is Spam” hay là “This is Junk”) – và bạn có thể dùng dữ liệu đó để biết khả năng phân phối của chương trình của bạn tại các hệ thống liên kết.

Hầu hết các nhà quản lý hệ thống kinh doanh đều sử dụng hai phần mềm Cloudmark hay Postini – cả hai chủ yếu làm việc dựa trên những lời góp ý – để quyết định lá thư nào được phép qua cổng và vào hộp thư của người đăng kí. Dĩ nhiên, một số nhà kinh doanh đặc biệt sử dụng những hệ thống email của người tiêu dùng để nhận những email mà họ không muốn nó nằm trong hộp thư liên kết của họ.

5. Kiểm tra giọng thư

Khi hộp thư đã đầy thư quảng cáo và ngân quỹ ngày càng eo hẹp hơn, hãy kiểm tra giọng thư. Những người đang kí nhận thư của bạn có phản hồi tốt hơn đối với một lá thư tốt đẹp, xán lạn và đầy hy vọng như “thử ngay để dẫn đầu”, hay một cách tiếp cận mù mờ hơn với đối tác như kiểu “làm sao để đạt nhiều hơn mà ít hao tốn hơn”?

Có lẽ một lá thư sẽ có hiệu quả hơn so với nhiều loại thư quảng cáo sản phẩm khác nhau.

Bạn muốn có thêm ý tưởng marketing tuyệt vời của nhóm B2B? Hãy đăng ký tham gia Hội thảo Marketing của nhóm MarketingProfs B2B ngay bây giờ. Hãy nhớ dùng mã số khuyến mãi ESPK08 để tiết kiệm 200 đô-la Mỹ.

Theo LTB dịch từ MP